Bộ video hướng dẫn sử dụng Ubuntu cơ bản

Bộ video hướng dẫn những thao tác và cấu hình Ubuntu một cách cơ bản nhất dành cho những người bắt đầu làm quen với Ubuntu. Toàn bộ video tại: http://www.youtube.com/user/Moriator#grid/user/590022A93A56AE15

Nếu có bất kì đóng góp ý kiến nào có thể tăng chất lượng của video, xin vui lòng để lại comment hoặc email cho mình moriator@gmail.com.

Bạn có thể chia sẻ bộ video để có thể giúp được nhiều người hơn.

Chúc vui!

Remote Desktop trên Ubuntu

Nhân có bài thuyết trình tại GNOME.Asia 2009, mình tóm tắt lại 1 số cách Remote Desktop trên Ubuntu.

Bài viết chỉ tập trung vào Remote Desktop theo kiểu nhiều người cùng điều khiển 1 Desktop và cùng 1 session. Ta có thể sử dụng cách này để truy cập và điều khiển 1 máy tính từ xa, cũng như hướng dẫn từ xa (vì cả 2 cùng thấy 1 Desktop).

Phương thức: VNC (Virtual Network Computing).

  • Ưu điểm:
    • Đa nền.
    • Dễ sử dụng.
  • Khuyết điểm:
    • Tốc độ chậm.
    • Không có tính bảo mật (không mã hóa dữ liệu khi truyền).
    • Không tự động mở port.

Phần mềm cần thiết:

  1. Ubuntu
    • Server: System → Preferences → Remote Desktop
    • Client: Applications → Internet → Remote Desktop Viewer
  2. Windows

Tiếp tục đọc

Tìm kiếm trong Ubuntu

Sự cố Deskbar trong Ubuntu Jaunty 9.04 đã khiến tôi mất chút thời gian để giải quyết. Đây là 1 bài hướng dẫn để bạn có thể thực hiện những tác vụ tìm kiếm trong Ubuntu.

Trước hết, chúng ta cần cài Tracker Search Tool. Đây là 1 ứng dụng rất mạnh dùng để đánh Index tất cả file trong máy, phục vụ cho việc tìm kiếm. Beagle cũng là 1 ứng dụng tương tự, nhưng không tốt bằng Tracker. Để cài đặt, bạn vào Synaptic và tìm gói tracker-search-tool.

Sau khi cài đặt, bạn vào System -> Preferences -> Search and Indexing, đánh dấu Enable indexing (tôi không hiểu tại sao cần phải có lựa chọn này, vì nếu không tạo Index thì làm sao mà search).

indexing1

Trong tab Files, bạn có thể thêm một số đường dẫn khác ngoài /home

indexing2

Trong tab Performance, bạn có thể cấu hình Tracker cho phù hợp với máy tính bạn.

Sau đó nhấp Apply. Tracker cần restart lại. Bạn sẽ thấy 1 biểu tượng trên thanh panel cho biết Tracker đang hoạt động, đến khi Tracker hiện “Tracker: Idle” thì quá trình đánh dấu đã xong (khoảng 5- 10 phút tùy vào cấu hình máy). Do tôi cho nó ẩn từ thời Ubuntu 8.10, cũng không biết làm sao cho nó hiện lại (ngoại trừ vô /home mà xóa thiết lập) nên không chụp screenshot, nhưng cũng không quan trọng, miễn nó hoạt động là được.

Bạn vô Applications -> Accessories -> Tracker Search Tools và vui vẻ với nó. Tracker sẽ lục tung máy bạn để tìm bất cứ thứ gì liên quan đến từ khóa (nhìn cột Categories mà phát sướng :P)

tracker

Nhưng như thế vẫn chưa phải “tuyệt đỉnh Kungfu”. Hãy sử dụng thêm Deskbar để việc tìm kiếm thực sự là 1 niềm vui 😛 Không hiểu sao Ubuntu 9.04 lại không đưa Deskbar vào mặc định. Nhưng không sao, ta có thể cài nó qua Synaptic với từ khóa deskbar-applet, và tổng hợp sức mạnh với Tracker với libdeskbar-tracker.

Sau khi cài đặt các gói trên, bạn nhấn chuột phải vào thanh Panel -> Add to Panel… và chọn Deskbar. Chuột phải vào Deskbar -> Preferences chọn Tracker Search hoặc Tracker Search Live (Tracker Search thì Tracker hoạt động sau khi bạn chọn – Tracker Search Live thì Tracker sẽ làm việc ngay trong lúc bạn gõ từ khóa, nhưng sẽ làm bạn khó thở bởi một núi kết quả! 😛 )

Hãy lướt qua 1 chút trong Deskbar Preferences, bạn sẽ thấy Deskbar mạnh như thế nào. Bạn có thể gõ vào 2 + 4 và nhìn thấy kết quả là 6, copy số 6 vào trong clipboard trong vòng nháy mắt nhờ Calculator! Nếu bạn đã biết Spotlight của MacOS, thì Deskbar thậm chí còn mạnh hơn nhiều (tôi không dùng Windows nên không biết Windows có cái nào “chiến” như vậy không). Phím tắt của Deskbar là Alt + F3.

deskbar

Thật là khó sống vui vẻ nếu thiếu Tracker và Deskbar. Enjoy them! 😀

Chúc vui! 🙂

Ubuntu Jaunty Jackalope 9.04

Đã có bản Release tại http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu-releases/jaunty/

Do 1 số sự cố nên đến bây giờ mới có thể thử được nàng Jaunty. Ấn tượng đầu tiên là tốc độ boot nhanh hơn (và hình như ngốn RAM nhiều hơn), đẹp hơn. Màn hình đăng nhập được bóng bẩy hơn, cả những Notification cũng được chỉnh lại dễ chịu hơn nhiều. Có thể thấy Jaunty được trau chuốt giao diện khá kĩ, chắc Canonical quyết tâm “đú” cùng Windows 7 :D.

Việc mà tôi luôn làm đầu tiên sau mỗi lần cài đặt Ubuntu là chọn server Việt Nam. Lúc trước tôi phải vào /etc/apt/sources.list để copy repository của FPT vào, nhưng bây giờ thì nó đã được Ubuntu cho vào list. Bạn chọn System -> Administration -> Software Sources. Download from bạn chọn Other… -> Viet Nam -> mirror-fpt-telecom.fpt.net.

repository

Pidgin 2.5.5 đã có Notification pop-up, nhưng vẫn còn thiếu chức năng send msg cho nhiều người cùng lúc. Bạn có thể cài thêm plugin để thực hiện chức năng đó ở đây http://www.box.net/shared/6xk9btyckw.

Firefox vẫn là phiên bản 3.0.9, nhưng chạy có vẻ là nhanh hơn (vô trang nhiều flash vẫn giật). Khi cài đặt xong tôi bị 1 vấn đề là Firefox cứ liên tục đòi restart dù tôi restart cả chục lần. Bạn vào Tools -> Add-ons và disable cái Ubuntu Firefox Modifications. Lần này tôi quyết tâm tiết kiệm diện tích nên đã dọn dẹp Firefox ra thế này 😀

screenshot-1

Nếu ai không cài được flash thì tự cài ở đây http://get.adobe.com…for_Linux_(.deb)

SCIM-Unikey gõ tiếng việt rất tốt, download và cài đặt ở đây http://www.box.net/shared/iuhmpj6yj8

OpenOffice 3.0 khởi động nhanh hơn.

Add/Remove… search với từ khóa gstream, cài hết về nghe nhạc thả phanh 😀

Cài gói nautilus-open-terminal để đưa Terminal vào menu của Nautilus, cách này cực kì tiện lợi, không có không thể thoải mái được 😀

$ sudo apt-get install nautilus-open-terminal

nautilus-open-terminal

Avant Window Navigator có sẵn trong Add/Remove… Tôi đã thử qua Cairo-dock (cũng trong Add/Remove…), nhưng không thích vì nó màu mè quá. AWN gọn nhẹ và quen tay hơn.

Điều làm tôi thất vọng ở Jaunty là không đưa Applet Deskbar quen thuộc vào mặc định, nhưng mọi thứ đã được giải quyết trong hướng dẫn Tìm kiếm trong Ubuntu.

Vẫn chưa cảm nhận được sự khác biệt của GNOME 2.26 so với GNOME 2.24.

TuxGuitar – GuitarPro cho Linux

Cập nhật 23/06/2008

Những ai tập Guitar chắc đều biết đến phần mềm GuitarPro dành cho Windows. Trên Linux, người ta sử dụng TuxGuitar, với những tính năng không thua kém GuitarPro và có thể chạy được các file gp*.

TuxGuitar trong Repository của Hardy chỉ là bản 0.9, bạn nên vào http://www.tuxguitar.com.ar/ để download bản mới nhất 1.0 (có file build sẵn cho Ubuntu).

Khi cài đặt, chương trình sẽ tự động download và cài Sun Java JRE 6 và sử dụng Java Sound Synthesizer để điều khiển âm thanh. Tuy nhiên, chương trình này chạy không được tốt (tiếng toàn đi sau nốt), nên bạn có thể download và cài đặt Timidity chất lượng tốt hơn.

$ sudo apt-get install timidity

Mở TuxGuitar lên, bạn vào Tools -> Settings -> Sound -> MIDI Port, chọn TiMidity port 0 [128:0].

Mở 1 file gp* lên xem nào?

Chúc vui! 🙂

Automount trong Ubuntu Hardy 8.04

Bài viết cũ có một số chỗ không chính xác lắm, nên mình viết lại theo một cách làm khác. Mong các bạn thông cảm!

Sau khi cài Ubuntu Hardy 8.04, thông thường các ổ đĩa sẽ không được automount (các phiên bản trước đều làm chuyện này). Điều này sẽ gây 1 số bất tiện, như có chương trình liên kết đến các file trong các ổ đĩa đó, thì nếu bạn không mount sẽ không làm việc được. Để automount các ổ đĩa, bạn làm như sau:

Mở Terminal (Applications -> Accessories -> Terminal), gõ vào

$ sudo fdisk -l

Lệnh này sẽ liệt kê tất cả các phân vùng hiện có. Ví dụ máy của mình sẽ hiện là:

Disk /dev/sda: 80.0 GB, 80026361856 bytes
255 heads, 63 sectors/track, 9729 cylinders
Units = cylinders of 16065 * 512 = 8225280 bytes
Disk identifier: 0x5b405b40

Device Boot      Start         End      Blocks   Id  System
/dev/sda2   *           2        9729    78140160    f  W95 Ext’d (LBA)
/dev/sda5               2        1276    10241406   83  Linux
/dev/sda6            1277        2169     7172991   83  Linux
/dev/sda7            2170        3062     7172991   83  Linux
/dev/sda8            3063        4167     8875881   83  Linux
/dev/sda9            4168        4232      522081   82  Linux swap / Solaris
/dev/sda10           4233        7296    24611548+   b  W95 FAT32
/dev/sda11           7297        9729    19543041    b  W95 FAT32

Sao lưu file /etc/fstab hiện có phòng khi bất trắc

$ sudo cp /etc/fstab /etc/fstab.bak

Mở file /etc/fstab lên để chỉnh sửa:

$ sudo gedit /etc/fstab

Ví dụ, nội dung của nó như sau:

# /etc/fstab: static file system information.
#
# <file system> <mount point>   <type>  <options>       <dump>  <pass>
proc                                       /proc          proc         defaults                    0  0
# /dev/sda5
UUID=4d94e281-d51d-4ee4-92a1-05a5d1a82bf0  /              ext3         relatime,errors=remount-ro  0  1
# /dev/sda6
UUID=9b9bfe6b-e81a-4ea3-8166-0aa1f8bcbd09  /home          ext3         relatime                    0  2
# /dev/sda9
UUID=d7541629-76d0-46dd-9e7a-20be6468bec2  none           swap         sw                          0  0
/dev/scd0                                  /media/cdrom0  udf,iso9660  user,noauto,exec,utf8       0  0
/dev/sda6                                  /media/sda6    ext3         defaults,errors=remount-ro  0  0
/dev/sda7                                  /media/sda7    ext3         defaults,errors=remount-ro  0  0
/dev/sda8                                  /media/sda8    ext3         defaults,errors=remount-ro  0  0

Bạn thấy đó, tất cả ph6n vùng ext3 đều được có mặt, còn các phân vùng FAT32 hay NTFS đều không có. Đó là lý do tại sao Ubuntu không tự động mount được các phân vùng đó. Để thay đổi ta làm như sau.

Thêm phân vùng FAT32 vào

/dev/sda10     /media/STUDY   vfat     iocharset=utf8,umask=000,uid=1000,gid=1000    0  0

Trong đó /dev/sda10 là ta theo lệnh fdisk -l, còn /media/STUDY là nơi ta muốn mount vào (bạn tạo thư mục /media/STUDY trước)

Tương tự, để thêm 1 phân vùng NTFS, đại loại làm như sau (vì mình không có phân vùng NTFS)

/dev/sda11   /media/Windows  ntfs     nls=utf8,umask=0222 0 0

Sau đó dùng lệnh sudo mount -a để kiểm tra đã mount tốt chưa. Khởi động lại máy và xem kết quả.

Chúc vui! 🙂

Maple 11 cho Linux

Bài viết này hướng dẫn cài đặt trên Ubuntu Hardy 8.04 bản 32bit, nhưng vẫn có thể áp dụng với các distro khác.

Việc đầu tiên là bạn download file cài đặt về (tên file Maple11Linux32Installer.bin, dung lượng 190MB). Mình tìm trên Google được một số link bên dưới:

# http://rapidshare.com/files/43150039/MAPLESOFT.Maple.v11.0.Linux.part1.rar
# http://rapidshare.com/files/43151700/MAPLESOFT.Maple.v11.0.Linux.part2.rar

Torrent:

# http://www.mininova.org/tor/1308136
# http://torrentz.ws/torrent/903089/Maple-11-for-Linux

Để cài đặt, bạn mở Terminal và gõ vào:

$ cd [đường_dẫn_đến_thư_mục_chứa_file_Maple11Linux32Installer.bin]
$ chmod +x Maple11Linux32Installer.bin
$ ./Maple11Linux32Installer.bin

Theo mặc định, Maple sẽ cài vào ~/maple11

Vấn đề tiếp theo là license. Nếu bạn đủ tiền thì nên mua license cho đúng luật (giá hơi.. cắt cổ, xem tại đây). Còn không, chỉ còn cách sử dụng license chùa 😛 . Nếu sau khi cài đặt bạn không có file license.dat thì có thể download tại đây. Chép file vào ~/maple11/license.

Do Maple xung đột với hiệu ứng của Ubuntu, bạn có thể sửa theo cách sau:

Dùng gedit mở file xmaple trong ~/maple11/bin, thêm vào bên dưới #!/bin/sh:

export AWT_TOOLKIT=MToolkit

Sử dụng Maple

Có 3 cách để sử dụng Maple, với 2 file maple và xmaple trong ~/maple11/bin.

  1. Chương trình đầy đủ. Chạy file xmaple, hoặc vào Terminal gõ lệnh $ ./xmaple.
  2. Classic Worksheet. Trong Terminal gõ lệnh $ ./maple -cw
  3. Giao diện dòng lệnh. Trong Terminal gõ lệnh $ ./maple. Cách này không tiện lợi bằng 2 cách trên nên chắc không ai dùng cả 😀

Để tiện lợi, bạn hãy tạo 2 icon liên kết đến 2 file trên. Nhấn chuột phải trên Desktop -> Creat Laucher…

  • Type: Application
  • Name: Maple 11
  • Command: /home/[tên_tài_khoản]/maple11/bin/xmaple

Làm tương tự cho Classic Worksheet với Command /home/[tên_tài_khoản]/maple11/bin/maple -cw

Thế là xong! Chúc vui! 🙂