Sử dụng TrueCrypt để mã hóa dữ liệu trong Ubuntu

TrueCrypt là phần mềm hệ thống cho phép thiết lập những ổ đĩa được-mã-hóa-tốc-hành (on-the-fly-encrypted). Cụm từ on-the-fly được dịch là “tốc hành”, “nhanh”, “làm tắt”, có nghĩa là dữ liệu sẽ được mã hóa hoặc giải mã ngay lập tức trước khi chúng được mở ra hoặc lưu lại, không cần sự can thiệp của người dùng. Khi ổ đĩa được mã hóa, người khác sẽ không thể xem được dữ liệu (tức giải mã) mà không có mật khẩu hoặc chía khóa. Toàn bộ hệ thống tập tin đề được mã hóa (tên tập tin, tên thư mục, nội dung trong từng tập tin, dung lượng trống, dữ liệu ẩn,…)

Khi giải mã một ổ đĩa (thật hoặc ảo) được mã hóa bởi TrueCrypt, chúng ta có thể làm việc như những thư mục hay tập tin thông thường (sao chép, cắt, dán, kéo thả..). Mọi thao tác đó sẽ được TrueCrypt thực hiện trên RAM, nhưng không phải toàn bộ tập tin mã hóa/giải mã được lưu trữ trên RAM trước khi nó được mã hóa/giải mã. Do đó, TrueCrypt không ngốn thêm RAM khi hoạt động.

Tiếp tục đọc

Remote Desktop trên Ubuntu

Nhân có bài thuyết trình tại GNOME.Asia 2009, mình tóm tắt lại 1 số cách Remote Desktop trên Ubuntu.

Bài viết chỉ tập trung vào Remote Desktop theo kiểu nhiều người cùng điều khiển 1 Desktop và cùng 1 session. Ta có thể sử dụng cách này để truy cập và điều khiển 1 máy tính từ xa, cũng như hướng dẫn từ xa (vì cả 2 cùng thấy 1 Desktop).

Phương thức: VNC (Virtual Network Computing).

  • Ưu điểm:
    • Đa nền.
    • Dễ sử dụng.
  • Khuyết điểm:
    • Tốc độ chậm.
    • Không có tính bảo mật (không mã hóa dữ liệu khi truyền).
    • Không tự động mở port.

Phần mềm cần thiết:

  1. Ubuntu
    • Server: System → Preferences → Remote Desktop
    • Client: Applications → Internet → Remote Desktop Viewer
  2. Windows

Tiếp tục đọc

Sử dụng Ctrl + Alt + Backspace trong Ubuntu 9.04

Ai dùng Ubuntu cũng biết rằng phím tắt Ctrl + Alt + Backspace dùng để khởi động lại X Window rất tiện lợi. Không hiểu vì lý do gì Ubuntu Jaunty 9.04 lại tắt phím tắt này, lỡ đến khi X Window bị crash thì vò đầu bứt trán! Sau đây là 1 số cách khôi phục lại Ctrl + Alt + Backspace, từ… rắc rối nhất đến nhanh nhất!

Cách 1: Cài đặt gói “dontzap”

$ sudo apt-get install dontzap

và sử dụng

$ sudo dontzap --disable

để sử dụng Ctrl + Alt + Backspace như các phiên bản Ubuntu khác, hoặc

$sudo dontzap --enable

để tắt phím tắt Ctrl + Alt + Backspace

Cách 2: (chưa test) sửa file xorg.conf. Bạn mở xorg.conf rồi thêm những dòng phía dưới

$ sudo gedit /etc/X11/xorg.conf

Section “ServerFlags”
Option “DontZap” “false”
EndSection

Cách 3: dùng phím tắt Right Alt + PrintScreen + k

(Theo UbuntuGeek)

Tìm kiếm trong Ubuntu

Sự cố Deskbar trong Ubuntu Jaunty 9.04 đã khiến tôi mất chút thời gian để giải quyết. Đây là 1 bài hướng dẫn để bạn có thể thực hiện những tác vụ tìm kiếm trong Ubuntu.

Trước hết, chúng ta cần cài Tracker Search Tool. Đây là 1 ứng dụng rất mạnh dùng để đánh Index tất cả file trong máy, phục vụ cho việc tìm kiếm. Beagle cũng là 1 ứng dụng tương tự, nhưng không tốt bằng Tracker. Để cài đặt, bạn vào Synaptic và tìm gói tracker-search-tool.

Sau khi cài đặt, bạn vào System -> Preferences -> Search and Indexing, đánh dấu Enable indexing (tôi không hiểu tại sao cần phải có lựa chọn này, vì nếu không tạo Index thì làm sao mà search).

indexing1

Trong tab Files, bạn có thể thêm một số đường dẫn khác ngoài /home

indexing2

Trong tab Performance, bạn có thể cấu hình Tracker cho phù hợp với máy tính bạn.

Sau đó nhấp Apply. Tracker cần restart lại. Bạn sẽ thấy 1 biểu tượng trên thanh panel cho biết Tracker đang hoạt động, đến khi Tracker hiện “Tracker: Idle” thì quá trình đánh dấu đã xong (khoảng 5- 10 phút tùy vào cấu hình máy). Do tôi cho nó ẩn từ thời Ubuntu 8.10, cũng không biết làm sao cho nó hiện lại (ngoại trừ vô /home mà xóa thiết lập) nên không chụp screenshot, nhưng cũng không quan trọng, miễn nó hoạt động là được.

Bạn vô Applications -> Accessories -> Tracker Search Tools và vui vẻ với nó. Tracker sẽ lục tung máy bạn để tìm bất cứ thứ gì liên quan đến từ khóa (nhìn cột Categories mà phát sướng :P)

tracker

Nhưng như thế vẫn chưa phải “tuyệt đỉnh Kungfu”. Hãy sử dụng thêm Deskbar để việc tìm kiếm thực sự là 1 niềm vui 😛 Không hiểu sao Ubuntu 9.04 lại không đưa Deskbar vào mặc định. Nhưng không sao, ta có thể cài nó qua Synaptic với từ khóa deskbar-applet, và tổng hợp sức mạnh với Tracker với libdeskbar-tracker.

Sau khi cài đặt các gói trên, bạn nhấn chuột phải vào thanh Panel -> Add to Panel… và chọn Deskbar. Chuột phải vào Deskbar -> Preferences chọn Tracker Search hoặc Tracker Search Live (Tracker Search thì Tracker hoạt động sau khi bạn chọn – Tracker Search Live thì Tracker sẽ làm việc ngay trong lúc bạn gõ từ khóa, nhưng sẽ làm bạn khó thở bởi một núi kết quả! 😛 )

Hãy lướt qua 1 chút trong Deskbar Preferences, bạn sẽ thấy Deskbar mạnh như thế nào. Bạn có thể gõ vào 2 + 4 và nhìn thấy kết quả là 6, copy số 6 vào trong clipboard trong vòng nháy mắt nhờ Calculator! Nếu bạn đã biết Spotlight của MacOS, thì Deskbar thậm chí còn mạnh hơn nhiều (tôi không dùng Windows nên không biết Windows có cái nào “chiến” như vậy không). Phím tắt của Deskbar là Alt + F3.

deskbar

Thật là khó sống vui vẻ nếu thiếu Tracker và Deskbar. Enjoy them! 😀

Chúc vui! 🙂

Sửa lỗi GPG error

Đôi khi, khi bạn add vào /etc/apt/souces.list vài repository thì có thể gặp lỗi như thế này:

W: GPG error: http://ppa.launchpad.net intrepid Release: The following signatures couldn’t be verified because the public key is not available: NO_PUBKEY 60D11217247D1CFF
W: GPG error: http://ppa.launchpad.net intrepid Release: The following signatures couldn’t be verified because the public key is not available: NO_PUBKEY 4874D3686E80C6B7

Lỗi trên xuất hiện khi tôi update OpenOffice từ 2.4 lên 3.0. Các khắc phục rất đơn giản. Bạn vào Terminal gõ 2 dòng lệnh sau:

$ gpg --keyserver keyserver.ubuntu.com --recv-keys $KEY
$ gpg --export --armor $KEY | sudo apt-key add -

Trong đó, $KEY là giá trị của khóa bị thiếu (ví dụ ở trên, tôi thiếu 2 khóa 60D11217247D1CFF và 4874D3686E80C6B7).

Sau đó chạy lệnh

$ sudo apt-get update

là xong!

Chúc vui! 🙂

Đặt label cho phân vùng trên Linux

Việc đặt label cho phân vùng có ưu điểm giúp ta phân loại và nhận biết dễ dàng hơn. Bản thân tôi trước khi đặt lại label cứ nhầm mãi giữa 2 phân vùng cùng label 60.0GiB Media. Trên Windows, bạn đơn giản là chỉ chọn phân vùng, nhấn F2 và đổi tên. Trên Linux thì phức tạp hơn chút. Ở đây tôi sử dụng Ubuntu 8.10 Intrepid.

Hướng dẫn thực hiện được viết đầy đủ tại đây: https://help.ubuntu.com/community/RenameUSBDrive

Chú ý: Hướng dẫn viết rằng bạn phải umount partiton thì mới có thể đặt label, nhưng nếu bạn không thể umount thì vẫn cứ làm bình thường. Việc đổi label sẽ có tác dụng sau khi khởi động lại máy.

Chúc vui! 🙂

Kinh nghiệm với VirtualBox

Lý do như đã nêu ở bài trước, là không thể không cài Windows XP để chạy Visual Studio C# Express phục vụ việc học tập. Thế là đành phải “tầm gửi” Windows XP lên Ubuntu 8.04 bằng VirtualBox.

Phiên bản mới nhất của VirtualBox hiện nay là 2.0.2. Bạn có thể tải về tại http://www.virtualbox.org/wiki/Linux_Downloads

Cách cài đặt Windows XP trên VirtualBox phải gọi là vô cùng đơn giản. Bạn chỉ việc làm những thao tác đơn giản như dưới đây (với các OS khác bạn làm hoàn toàn tương tự).

Tạo ổ đĩa ảo

Mở VirtualBox, chọn New -> Next đến phần VM Name and OS Type.

  • Name: đây là tên ổ đĩa ảo. Cứ đặt là WindowsXP hay WinsXP tùy bạn.
  • OS Type: Windows XP

Click Next đến phần Memory. Đây là dung lượng RAM bạn cấp cho Windows XP. Tùy vào lượng RAM của máy mà bạn chia sẻ cho phù hợp -> Next.

Virtual Hard Disk là phần tạo ổ đĩa ảo. Nếu chưa tạo bao giờ thì bạn chọn New… -> Next -> Image Type.

  • Dynamically expanding image: xài đến đâu, dung lượng phình ra đến đó. (nên chọn)
  • Fixed-size image: tạo 1 dung lượng sẵn cố định.

-> Next ->

  • Image File Name: đây là nơi sẽ đặt ổ đĩa ảo. Mặc định là tại ~/.VirtualBox/VDI. Bạn có thể chọn ở vị trí khác. Điều này là cần thiết nếu bạn muốn chia sẽ ổ đĩa này cho nhiều tài khoản sử dụng (nếu đặt trong ~ thì tài khoản khác sẽ không thể dùng được.)
  • Image Size: dung lượng ổ đĩa tối đa. Nếu bạn chọ Image Type là Dynamically expanding image thì sau khi cài ổ đĩa chỉ có khoảng 1.5GB thôi.

-> Next -> Finish.

Thế là xong bước 1.

Cài đặt Windows XP, bạn chỉ việc bỏ đĩa Windows XP vào ổ đĩa, mờ VirtualBox lên, chọn WindowsXP -> Start và cài đặt bình thường.

Chú ý: có 1 phím dùng để điều khiển con chuột giữa máy thật và máy ảo, gọi là phím Host. Mặc định của VirtualBox là phím Ctrl phải.

Chia sẻ file.

Việc chia sẻ file giữa máy thật và máy ảo trong VirtualBox rất đơn giản, thậm chí không cần phải gõ bất kì 1 dòng lệnh nào (như rất nhiều tài liệu hướng dẫn). Các bạn làm như sau.

Tạo 1 thư mục dùng để “liên lạc” giữa máy thật và máy ảo. Giả sử mình tạo thư mục SharedFolder trong ~.

Trong VirtualBox, chọn WindowsXP (bên trái), click vào Shared Folder (phần Details bên phải). Cạnh bên phải của bảng Setting chọn Add New Shared Folder (Ins) và chọn thư mục SharedFolder vừa mới tạo -> OK.

Khởi động Windows XP lên. Mở My Computer, trên thanh Menu chọn Tools -> Map Network Dirver…

  • Driver: tên phân vùng dùng để chia sẻ. Bạn có thể chọn bất kì chữ cái gì trừ những chữ đã “có chủ”.
  • Folder: chọn \\BOXSVR\SharedFolder

Finish. Lúc đó trong My Computer bạn sẽ thấy ổ đĩa SharedFolder trong phần Network Drivers.

Thế là xong!

Kinh nghiệm:

– Bạn có thể mount 1 file *.iso mà không cần phải burn ra đĩa. Trong cửa sổ WindowsXP, chọn Devices -> Mount CD/DVD-ROM -> CD/DVD-ROM Image…

– Muốn có âm thanh trong máy ảo, chọn Audio trong Setting -> Enable Audio -> Host Audio Driver: ALSA Audio Driver.

– Nếu cần thiết, tất hết CD-ROM, USB, Network để tránh trường hợp virus xâm nhập. Con đường kết nối duy nhất là SharedFolder.

– Các phím tắt có trong mục Machine trên thanh Menu. 1 số phím tắt thường dùng là Host+F, Host+L, Host+Del.

Thấy đơn giản chưa! 😀

Chúc vui!

Bài liên quan: Sử dụng USB trong VirtualBox