Moriator - I can do it!

Linux dễ dàng hơn bạn nghĩ!

Archive for the 'Linux Tutorial' Category


Kinh nghiệm với VirtualBox

Posted by moriator on October 8, 2008

Lý do như đã nêu ở bài trước, là không thể không cài Windows XP để chạy Visual Studio C# Express phục vụ việc học tập. Thế là đành phải “tầm gửi” Windows XP lên Ubuntu 8.04 bằng VirtualBox.

Phiên bản mới nhất của VirtualBox hiện nay là 2.0.2. Bạn có thể tải về tại http://www.virtualbox.org/wiki/Linux_Downloads

Cách cài đặt Windows XP trên VirtualBox phải gọi là vô cùng đơn giản. Bạn chỉ việc làm những thao tác đơn giản như dưới đây (với các OS khác bạn làm hoàn toàn tương tự).

Tạo ổ đĩa ảo

Mở VirtualBox, chọn New -> Next đến phần VM Name and OS Type.

  • Name: đây là tên ổ đĩa ảo. Cứ đặt là WindowsXP hay WinsXP tùy bạn.
  • OS Type: Windows XP

Click Next đến phần Memory. Đây là dung lượng RAM bạn cấp cho Windows XP. Tùy vào lượng RAM của máy mà bạn chia sẻ cho phù hợp -> Next.

Virtual Hard Disk là phần tạo ổ đĩa ảo. Nếu chưa tạo bao giờ thì bạn chọn New… -> Next -> Image Type.

  • Dynamically expanding image: xài đến đâu, dung lượng phình ra đến đó. (nên chọn)
  • Fixed-size image: tạo 1 dung lượng sẵn cố định.

-> Next ->

  • Image File Name: đây là nơi sẽ đặt ổ đĩa ảo. Mặc định là tại ~/.VirtualBox/VDI. Bạn có thể chọn ở vị trí khác. Điều này là cần thiết nếu bạn muốn chia sẽ ổ đĩa này cho nhiều tài khoản sử dụng (nếu đặt trong ~ thì tài khoản khác sẽ không thể dùng được.)
  • Image Size: dung lượng ổ đĩa tối đa. Nếu bạn chọ Image Type là Dynamically expanding image thì sau khi cài ổ đĩa chỉ có khoảng 1.5GB thôi.

-> Next -> Finish.

Thế là xong bước 1.

Cài đặt Windows XP, bạn chỉ việc bỏ đĩa Windows XP vào ổ đĩa, mờ VirtualBox lên, chọn WindowsXP -> Start và cài đặt bình thường.

Chú ý: có 1 phím dùng để điều khiển con chuột giữa máy thật và máy ảo, gọi là phím Host. Mặc định của VirtualBox là phím Ctrl phải.

Chia sẻ file.

Việc chia sẻ file giữa máy thật và máy ảo trong VirtualBox rất đơn giản, thậm chí không cần phải gõ bất kì 1 dòng lệnh nào (như rất nhiều tài liệu hướng dẫn). Các bạn làm như sau.

Tạo 1 thư mục dùng để “liên lạc” giữa máy thật và máy ảo. Giả sử mình tạo thư mục SharedFolder trong ~.

Trong VirtualBox, chọn WindowsXP (bên trái), click vào Shared Folder (phần Details bên phải). Cạnh bên phải của bảng Setting chọn Add New Shared Folder (Ins) và chọn thư mục SharedFolder vừa mới tạo -> OK.

Khởi động Windows XP lên. Mở My Computer, trên thanh Menu chọn Tools -> Map Network Dirver…

  • Driver: tên phân vùng dùng để chia sẻ. Bạn có thể chọn bất kì chữ cái gì trừ những chữ đã “có chủ”.
  • Folder: chọn \\BOXSVR\SharedFolder

Finish. Lúc đó trong My Computer bạn sẽ thấy ổ đĩa SharedFolder trong phần Network Drivers.

Thế là xong!

Kinh nghiệm:

- Bạn có thể mount 1 file *.iso mà không cần phải burn ra đĩa. Trong cửa sổ WindowsXP, chọn Devices -> Mount CD/DVD-ROM -> CD/DVD-ROM Image…

- Muốn có âm thanh trong máy ảo, chọn Audio trong Setting -> Enable Audio -> Host Audio Driver: ALSA Audio Driver.

- Nếu cần thiết, tất hết CD-ROM, USB, Network để tránh trường hợp virus xâm nhập. Con đường kết nối duy nhất là SharedFolder.

- Các phím tắt có trong mục Machine trên thanh Menu. 1 số phím tắt thường dùng là Host+F, Host+L, Host+Del.

Thấy đơn giản chưa! :D

Chúc vui!

Posted in Linux Tutorial, Thủ thuật máy tính | Tagged: , | 2 Comments »

Chạy các ứng dụng trên Dos bằng Dosbox

Posted by moriator on September 10, 2008

Tình hình là vầy. Nhỏ em ở nhà sắp phải học Pascal, sử dụng Turbo Pascal 7.0 (TP). Thế là nó nhờ mình cài TP vào Ubuntu (chiến dịch “Linux hóa”, cả nhà chỉ xài Ubuntu :P ). Sau nhiều ngày vật vã, thử đủ mọi cách vẫn không thỏa mãn. Free Pascal chạy tốt nhưng debug không xong, Lazarus hầm bà lằng quá không thích hợp với trình độ Hello World, Wine không chạy được ứng dụng 16bit. Đã có lúc phải nghĩ đến chuyện cài Windows vô, nhưng may mắn Dosbox xuất hiện kịp thời. :D

Dosbox là chương trình mô phỏng Dos thực, chạy được trên các HĐH. Để cài đặt trong Linux, bạn dùng lệnh

$ sudo apt-get install dosbox

Để cài đặt lại các phím tắt trong Dosbox từ Ctrl+F1 -> Ctrl+F12 nhằm tránh bị xung đột với chương trình đang chạy, bạn nhấn Ctrl+F1, mở key mapper ra và chỉnh theo ý muốn. Trong đó mod1 là Right Ctrl, mod2 là Right Alt.

Chúc vui!

Posted in Linux Tutorial | Tagged: , | No Comments »

Sử dụng Evolution với Gmail

Posted by moriator on August 1, 2008

Sử dụng internet một cách thường xuyên, đa số chúng ta đều đang sở hữu hai ba tài khoản email cho nhiều mục đích khác nhau. Mỗi lần kiểm tra email, ta phải log in/log out nhiều lần để xem tất cả tài khoản. Một khó khăn khác là làm sao để reply 1 email ở tài khoản này bằng tài khoản khác một cách đơn giản?

Evolution là phần mềm lưu trữ và quản lý những thông tin cá nhân, đặc biệt là email. Ngoài ra evolution còn có chức năng lịch làm việc, sổ địa chỉ., giúp ta quản lý giờ giấc tốt hơn (đồng bộ với aplet Clock ở góc trên phải thanh panel của Ubuntu). Evolution được cài đặt sẵn trong Ubuntu, nên bạn không tốn thời gian cài đặt. Bài viết này sẽ tập trung vào tiện ích kiểm tra email từ tài khoản gmail.

Mở Evolution từ Applications -> Internet -> Evoluton Mail. Bạn cứ làm theo thứ tự những hình hướng dẫn bên dưới, thay name@gmail.com bằng tên tài khoản gmail của bạn. Mình chưa thử với những dịch vụ email khác.

Bằng cách này, bạn có thể tạo và quản lý cùng lúc nhiều tài khoản gmail. Chương trình sẽ kiểm tra và thông báo có email mới sau 1 khoảng thời gian nhất định. Tiện quá phải không?

Evolution còn có chức năng quản lý task, lịch làm việc, ghi chú và bạn có thể theo dõi qua aplet clock của Ubuntu như hình bên dưới.

Chúc vui!

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu, Uncategorized | Tagged: , , | 5 Comments »

Chat chit trong Ubuntu

Posted by moriator on July 26, 2008

Bất cứ ai, hễ sử dụng internet là phải sử dụng một phần mềm IM (Internet Messeger) để trao đổi thông tin như một nhu cầu tất yếu. Tại Việt Nam, đa số chúng ta sử dụng Yahoo!Messenger, nên 1 số người sau khi chuyển sang Ubuntu (hay bất kì distro nào khác) lại “cố sống cố chết” để cài Y!M với lý do “quen rồi khó bỏ lắm”. Hầy, sao không mộtl lần thử Pidgin hay một số phần mềm khác xem sao?

Trong Ubuntu, Pidgin IM là mặc định. Nếu bạn không có nhu cầu sử dụng voice chat hay webcam thì đây là 1 sản phẩm rất hài lòng.

Mở Pidgin lên, nếu chưa có tài khoản nào thì một cửa sổ Accounts sẽ hiện ra. Bạn click vào Add và điền thông tin cần thiết vào. Sau đó bạn có thể sử dụng được ngay. Ưu điểm của cách quản lý account kiểu này là bạn có thể chat cùng lúc bằng nhiều nick (một điều mà chính Y!M cũng không làm được). Có điều bưởi là Pidgin sẽ merge 2 account lại dễ làm ta lóa mắt.

Thêm Y!M Emoticons: bộ Emoticons của Pidgin, theo cá nhân mình, là không được hấp dẫn và gần gũi như Y!M. Tuy nhiên, bạn có thể dễ dàng thêm bộ Emoticons của Y!M (và rất nhiều phần mềm IM khác) vào bằng cách:

Download và giải nén bộ Emoticon về tại: http://www.box.net/shared/khaqadg08s

Sau đó bạn chép vào thư mục /usr/share/pixmaps/pidgin/emotes. Vào Pidgin nhấn Ctrl+P (Tools -> Preferences) -> Smile Themes -> BlueScreenKids Pack.

Send Group Message: tính năng này đôi khi rất cần thiết, đặc biệt là… spamer :D Pidgin không mặc định hỗ trợ chức năng này vì lý do “không lịch sự”, nhưng ta có thể cài đặt vào bằng cách download vài cài đặt tại http://www.box.net/shared/6xk9btyckw

Guification: cái này thì giống như cái cửa sổ chạy lên chạy xuống góc dưới phải của Y!M, thông báo ai vừa online, ai vừa offline, send message,… Download và cài đặt tại http://www.box.net/shared/cy1y9tcis8

BUZZ: thêm 1 tính năng “bất lịch sự” nữa không được Pidgin làm sẵn. Bạn chịu khó gõ /buzz để thực hiện “ý đồ” (gõ /help để biết thêm 1 số lệnh khác).

Nếu bạn sử dụng voice chat hay webcam thì Gyachi là phần mềm bạn cần. Mình không sử dụng nó thường xuyên và việc sử dụng nó cũng không khó lắm nên hướng dẫn ở đây. Các bạn download và cài đặt tại http://www.box.net/shared/b79zwboqo0

Skype: phần mềm này giống y chang như bên Windows, download và cài đặt tại http://www.skype.com/download/skype/linux/

Cảm ơn các bạn đã đọc và comment!

Chúc vui! :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | Tagged: , , , | 5 Comments »

TuxGuitar - GuitarPro cho Linux

Posted by moriator on June 8, 2008

Cập nhật 23/06/2008

Những ai tập Guitar chắc đều biết đến phần mềm GuitarPro dành cho Windows. Trên Linux, người ta sử dụng TuxGuitar, với những tính năng không thua kém GuitarPro và có thể chạy được các file gp*.

TuxGuitar trong Repository của Hardy chỉ là bản 0.9, bạn nên vào http://www.tuxguitar.com.ar/ để download bản mới nhất 1.0 (có file build sẵn cho Ubuntu).

Khi cài đặt, chương trình sẽ tự động download và cài Sun Java JRE 6 và sử dụng Java Sound Synthesizer để điều khiển âm thanh. Tuy nhiên, chương trình này chạy không được tốt (tiếng toàn đi sau nốt), nên bạn có thể download và cài đặt Timidity chất lượng tốt hơn.

$ sudo apt-get install timidity

Mở TuxGuitar lên, bạn vào Tools -> Settings -> Sound -> MIDI Port, chọn TiMidity port 0 [128:0].

Mở 1 file gp* lên xem nào?

Chúc vui! :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | Tagged: , | 4 Comments »

Maple 11 cho Linux

Posted by moriator on May 23, 2008

Bài viết này hướng dẫn cài đặt trên Ubuntu Hardy 8.04 bản 32bit, nhưng vẫn có thể áp dụng với các distro khác.

Việc đầu tiên là bạn download file cài đặt về (tên file Maple11Linux32Installer.bin, dung lượng 190MB). Mình tìm trên Google được một số link bên dưới:

# http://rapidshare.com/files/43150039/MAPLESOFT.Maple.v11.0.Linux.part1.rar
# http://rapidshare.com/files/43151700/MAPLESOFT.Maple.v11.0.Linux.part2.rar

Torrent:

# http://www.mininova.org/tor/1308136
# http://torrentz.ws/torrent/903089/Maple-11-for-Linux

Để cài đặt, bạn mở Terminal và gõ vào:

$ cd [đường_dẫn_đến_thư_mục_chứa_file_Maple11Linux32Installer.bin]
$ chmod +x Maple11Linux32Installer.bin
$ ./Maple11Linux32Installer.bin

Theo mặc định, Maple sẽ cài vào ~/maple11

Vấn đề tiếp theo là license. Nếu bạn đủ tiền thì nên mua license cho đúng luật (giá hơi.. cắt cổ, xem tại đây). Còn không, chỉ còn cách sử dụng license chùa :-P . Nếu sau khi cài đặt bạn không có file license.dat thì có thể download tại đây. Chép file vào ~/maple11/license.

Do Maple xung đột với hiệu ứng của Ubuntu, bạn có thể sửa theo cách sau:

Dùng gedit mở file xmaple trong ~/maple11/bin, thêm vào bên dưới #!/bin/sh:

export AWT_TOOLKIT=MToolkit

Sử dụng Maple

Có 3 cách để sử dụng Maple, với 2 file maple và xmaple trong ~/maple11/bin.

  1. Chương trình đầy đủ. Chạy file xmaple, hoặc vào Terminal gõ lệnh $ ./xmaple.
  2. Classic Worksheet. Trong Terminal gõ lệnh $ ./maple -cw
  3. Giao diện dòng lệnh. Trong Terminal gõ lệnh $ ./maple. Cách này không tiện lợi bằng 2 cách trên nên chắc không ai dùng cả :D

Để tiện lợi, bạn hãy tạo 2 icon liên kết đến 2 file trên. Nhấn chuột phải trên Desktop -> Creat Laucher…

  • Type: Application
  • Name: Maple 11
  • Command: /home/[tên_tài_khoản]/maple11/bin/xmaple

Làm tương tự cho Classic Worksheet với Command /home/[tên_tài_khoản]/maple11/bin/maple -cw

Thế là xong! Chúc vui! :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | Tagged: , , | 2 Comments »

Kết nối bluetooth trong Ubuntu 7.10

Posted by moriator on April 1, 2008

Việc kết nối Bluetooth được thực hiện trên laptop Acer Aspire 5580, version Bluetooth 2.0 + EDR. Các loại máy khác mình chưa thử, nhưng có lẽ cũng chạy tốt :D

Cài đặt Blueman Bluetooth Manager. Đây là chương trình quản lý bluetooth khá mạnh trên Linux (thấy nhiều người cũng nói vậy :P )

Homepage: http://blueman.tuxfamily.org/

Bạn mở Terminal và nhập vào dòng lệnh sau:

echo ‘deb http://download.tuxfamily.org/blueman ubuntu bluetooth’ | sudo tee /etc/apt/sources.list.d/blueman.list

Download và nhập GPG key:

wget http://download.tuxfamily.org/blueman/repository.gpg -O- | sudo apt-key add -

Sau đó, bạn vào Synaptic (System -> Administration -> Synaptic Parkage Manager), search với từ khóa “blueman” và cài đặt.

Cách sử dụng thì vô cùng đơn giản. Chọn nút Inquiry để tìm thiết bị, nút List Seen để xem những kết nối gần đây và nút Send File dùng để send file :D

Đã thử nghiệm thành công khi kết nối với Motorola l7, một chiếc SonyEricsson và MacPro :)

Cảm ơn đã xem và comment.

Chúc vui :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | Tagged: , , | No Comments »

Cài đặt Screenlets cho Ubuntu

Posted by moriator on March 9, 2008

Lúc trước bạn Demon có hỏi mình về Screenlets. Mình đã cài thử nhưng khi sử dụng thì gặp vấn đề này nọ, làm biếng nghiên cứu nên chưa post lên :P

Hôm nay 8/3, tự nhiên thấy khó ngủ nên tìm hiểu cho xong thằng Screenlets này. Thì ra, lúc thử nghiệm cài nhiều phiên bản Screenlets quá nên nó bị xung đột tùm lum hết. Gỡ ra hết cài bản mới nhất thì mới ok :D

Nếu bạn nào chưa biết Screenlets là gì thì nhìn vào tấm hình bên dưới. Nó làm cho desktop của chúng ta trông pro hơn.

Bạn download và cài đặt Screenlets từ http://www.getdeb.net/release.php?id=2128

Chương trình chạy khá tốt, để mở Screenlet Manager, bạn vào System -> Preferences -> Screenlets. Muốn chạy Screenlet nào, bạn chỉ việc chọn và nhấn Lauch/Add. Để chạy mặc định bạn nhấn chọn Auto start on login.

Tuy nhiên, có một rắc rối là một số screenlet bị sao đấy mà không thể thiết lập mặc định (ban đầu nó nằm bên trái, bạn kéo qua phải, khởi động lại thì nó về lại bên trái!). Điển hình của “vụ án” này là thằng Sysmonitor. Sau nửa tiếng lò mò, mình phát hiện ra “bè lũ mấy tên” tụi nó lưu mặc định trong thư mục ~/.config/Screenlets. Vào kiểm tra và phát hiện Sysmonitor không tạo được file lưu mặc định. Hờ hờ, nó không làm thì mình làm dùm nó. :))

Trong thư mục .config/Screenlets/Systemonitor/Default, bạn tạo 1 file tên Sysmonitor1.ini với nội dung có thể như sau:

is_sticky=True
enable_buttons=True
lock_position=True
keep_above=False
keep_below=False
y=24
x=1099

Trong đó, những tính năng quan trọng là:

- keep above=False: đảm bảo không nằm đè lên các cửa sổ chương trình khác.

- y, x: tọa độ của góc trên trái Screenlet mặc định khi khởi động.

Để chắc chắn, sau khi đặt Screenlet ngay ngắn, bạn nhấp chuột phải -> Properties… -> Options và điền các số liệu cần thiết vào. Để đảm bảo chính xác, bạn mở các file lưu mặc định của các Screenlet khác, copy qua và sửa lại chút chút.

Thế là xong!

Chúc vui! :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | Tagged: , , | 6 Comments »

Sử dụng KDevelop thay thế cho Visual C++

Posted by moriator on January 15, 2008

Đối với những bạn đang học lập trình thì tìm một công cụ lập trình trên Linux thay thế cho Visual Studio trên Windows là một điều hết sức quan trọng. Bài viết này sẽ giới thiệu phần mềm KDevelop, một công cụ lập trình khá mạnh không kém gì Visual Studio.

KDevelop hỗ trợ rất nhiều ngôn ngữ khác nhau như ADA, C, C++, Fortran, Java, Pascal, Perl,… Vì mình mới học C/C++ nên mình chỉ nói về cách lập trình C/C++ trên KDevelop.

I/ Cài đặt KDevelop:

Vào Applications -> Add/Remove… tìm KDevelop (trong mục Programming) và cài. Tuy nhiên, KDevelop là chương trình tối ưu cho Kubuntu, nên nếu cài trong Ubuntu, bạn cần cài thêm Konsole (trong Add/Remove…).

Để cài trình biên dịch cho KDevelop, bạn mở Terminal và gõ vào:

$ sudo apt-get install g++

Sau đó vào System -> Administration -> Synaptic Package Manager, tìm với từ khóa automake, cài autoconf 2.61-4automake 1.9.

Thế là xong!

II/ Sử dụng KDevelop:

Tạo 1 project mới: Project -> New Project -> C++ -> Simple Hello world program. Bạn gõ tên Project, next vài lần rồi nhấn Shift + F9 để chạy thử. Nếu hiện ra cửa sổ Konsole là thành công!

Thật sự mình cũng chẳng biết làm thế nào để tạo 1 project rỗng như Visual C++ nên lúc nào cũng chọn Simple Hello world program rồi xoá hết nội dung file để code lại. Sử dụng cách này khá tiện vì nó tạo sẵn makefile (makefile là file “hướng dẫn” cho g++ biên dịch project).

KDevelop tự động đặt tên file chứa hàm main trùng với tên project. Nếu không thích kiểu đặt tên này, bạn có thể sửa lại như sau:

Ví dụ mình có 1 project tên test và muốn đổi tên file test.cpp thành main.cpp

Cột bên trái chọn File Selector (trên cùng) -> src (tất cả những file .cpp và .h đều nằm ở thư mục src). Click phải lên file test.cpp -> Properties. Đổi tên lại rồi nhấn OK.

Sau đó vài makefile.am, đổi dòng test_SOURCES = test.cpp thành test_SOURCES = main.cpp.

Nhấn Shift -> F9 để chạy. Nếu Konsole lại hiện ra là OK. Trông có vẻ phức tạp nhưng nếu bạn biết sử dụng makefile thì nó sẽ rất hay và tiện lợi.

Một số hiệu chỉnh khi sử dụng KDevelop (không bắt buộc và tùy theo phong cách mỗi người, mình chỉnh lại để dễ nhìn hơn)

Vào Setting -> Configure Editor… -> Indentation. Intentation mode chọn S&S C Style (bạn có thể thử nhiều style khác nhau để chọn cái thích hợp).

Vào Project -> Project Options -> Debugger. Đánh dấu chọn Enable seperate terminal for application IO. Khi debug, đến câu lệnh cin để nhập liệu thì cửa sổ Konsole sẽ mở ra (lúc trước không biết, debug đến lệnh cin nó đơ luôn :D )

Bấy nhiêu đấy là bạn có thể vui vẻ với KDevelop được rồi đấy.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về KDevelop tại http://women.kde.org/articles/tutorials.php . Có cả tài liệu tiếng việt do Phan Anh Vu dịch đấy :)

Nói thêm: bạn có thể không cần cài KDevelop mà vẫn có thể dùng g++ để biên dịch và thực thi 1 file C/C++. Mở terminal và vào thư mục chứa file C/C++:

Tạo file thực thi:

$ g++ main.cpp -o main

Chạy file:

$ ./main

Debug trong terminal: sử dụng gdb. Khi biên dịch file main.cpp bạn phải dùng:

$ g++ -g main.cpp -o main

Và debug:

$ gdb main

- Để chạy chương trình gõ r
- Đặt breakpoint tại dòng thứ i gõ b i
- Đặt breakpoint tại hàm tên func gõ b func
- Xem file n dòng đầu gõ l n
- Compile dòng tiếp theo gõ n
- Xem giá trị 1 biến x gõ p x

Nhớ có nhiêu đó :) Ai muốn biết rõ hơn lên mạng search vậy :D

Để compile nhiều file cùng lúc (.cpp, .h) bạn nên sử dụng makefile. Tiếc là mình học lâu quá nên bây giờ không nhớ rõ nữa.

Posted in C/C++, Linux, Linux Tutorial, Lập trình | Tagged: | 6 Comments »

Bộ gõ xvnkb 0.3.0 đã fix các lỗi

Posted by moriator on January 8, 2008

Hiện nay trên mạng đã có bản xvnkb được fix các lỗi của phiên bản cũ như lỗi automount CD, lỗi phím đặc biệt của laptop.

Download: http://www.box.net/shared/mog7hhuqso

Một số thủ thuật như tự động chạy với thiết lập riêng, chạy ẩn vẫn như cũ.

Chạy mặc định khi khởi động: nhấn Alt + F2 rồi thêm vào xvnkb –method=telex –charset=utf8 (trong đó method là telex, vni hoặc viqr; charset là utf8, tcvn, viscii, vps hoặc viqr).

Chạy ẩn: soạn tập tin .xvnkbrc trong thư mục Home Folder với nội dung:

top 0
left 0
method 1
enable 1
charset 5
spelling 0
interface 1
docking 1
font helvetica:size=10:style=bold
hotkey Control Shift_L

Bài liên quan: Cài đặt bộ gõ xvnkb cho ubuntu

Cảm ơn bạn giunkieng đã chia sẻ thông tin và gói cài đặt này :)

Posted in Linux, Linux Tutorial, Ubuntu | 9 Comments »